Một số chỉ báo xu hướng trong phân tích kỹ thuật
Sưu tầm
1. Chỉ báo Aroon
Là một chỉ báo được viết bởi Tusher Chande. Aroon tiếng Phạn (Sanskrit) có nghĩa là "Bình minh ló sáng" hay "hoàng hôn sớm mai". Aroon cho phép người sử dụng biết trước sự thay đổi giá của cổ phần trong một phạm vi xu hướng đang diễn ra. Có nhiều thông tin về chỉ số này trong tạp chí Technical Analysis of Stocks & Commodities xuất bản tháng 9/1995 do ông Tushar Chande viết.
Sự thay đổi biết trước này được đo lường bởi số phiên (periods) đã diễn ra trước đó, cụ thể là: x-phiên cao và x-phiên thấp nhất. Aroon gồm có hai đường; một là để diễn tả x-phiên cao (Aroon Up) và đường kia diễn tả x-phiên thấp (Aroon Down).
Thực tế nó được vẽ giống như “stochastic” và được tỉ lệ trong phạm vi từ 0 đến 100. Chúng được mặc định giá trị là 14 phiên. Nếu là cổ phần tăng trong 14 phiên liên tục thì Aroon Up =100, khi cổ phần đó giảm 14 phiên liên tục thì Aroon Down = 100. Nếu cổ phần đó không tăng 14 phiên thì Aroon Up = 0 và không giảm 14 phiên thì Aroon Down = 0.
Giải thích cho dễ hiểu: một phần nhỏ trong những vấn đề lâu đời của hệ thống mua bán (trading system) là khó xác định xu hướng đang diễn ra hoặc phạm vi đang mua bán của thị trường có sẵn: Chỉ báo tiếp tục xu hướng cũng giống như là MACD và Moving Averages, các bẫy của thị trường (whipsaw) hoặc không có xu hướng, bế tắc, các vùng quá mua (overbought), quá bán (oversold). Chỉ báo Aroon sẽ giúp chúng ta xác định xu hướng tiếp tục hoặc chỉ dẫn các vùng quá mua, quá bán rất tốt.
+ Cách sử dụng
Có 3 trạng thái cơ bản nhất về chỉ số Aroon: mức độ cao nhất tại 0 đến 100, so sánh sự di chuyển giữa Aroon Up và Aroon Down, điểm giao cắt giữa Aroon Up và Aroon Down.
a. Mức độ: Khi Aroon Up ở lằn 100 thì cho biết cường độ là rất mạnh. Nếu Aroon Up liên tục ở vùng giữa 70 và 100 thì đó là một cái xu hướng tăng. Tương tự như thế nếu Aroon Down ở lằn 100 thì cho biết khả năng là yếu nhất, nếu Aroon Down liên tục ở vùng 70 đến 100 thì đó là một xu hướng giảm.
Một xu hướng tăng giá mạnh là Aroon Up phải liên tục nằm trong vùng giữa 70 và 100 trong khi Aroon Down phải liên tục nằm trong vùng giữa 0 và 30. Tương tự như vậy cho xu hướng giảm giá mạnh.
b. So sánh sự di chuyển: mỗi khi Aroon Up và Aroon Down di chuyển song song (xấp xỉ tại những mức giống nhau) là củng cố xu hướng cho đến khi mức độ được xác lập hay điểm giao cắt giữa chúng xảy ra.
c. Điểm giao cắt: Khi Aroon Down cắt trên Aroon Up thì cho biết khả năng là yếu nhất, giá sẽ bắt đầu giảm mạnh . Khi Aroon Up cắt trên Aroon Down thì khả năng là mạnh nhất, giá sẽ bắt đầu tăng.
+ Ví dụ minh họa
Với hình dưới chúng ta thấy những vùng màu xanh lá là những thời kỳ có xu hướng tăng rất mạnh, còn những vùng màu tím là thời kỳ có xu hướng giảm giá mạnh. Còn hiện tại là xu hướng tăng nhưng yếu (vì Aroon Down không nằm trong vùng 0-30).
![]() |
| Hình 01 - Chỉ báo Aroon |
2. Directional movement index (DMI)
+ Sử dụng kết hợp với Average Directional Index (ADX)
Đây là chỉ báo tiếp theo của xu hướng thị trường được ông Welles Wilder chế tạo ra, công thức tính tóan hết sức rắc rối và khó hiểu nhưng may thay nó lại rất dễ sử dụng.
ADX khi được kết hợp với cặp +DMI (chỉ số hướng tích cực) và -DMI (chỉ số hướng tiêu cực) sẽ cung cấp đầy đủ và chính xác cho hệ thống mua bán (trading system). Nó có thể sẽ trở thành 1 chỉ báo đầy đủ chi tiết trong 1 không gian giới hạn nhưng vẫn thỏa mãn được những khái niệm chung.
Đầu tiên chúng ta cần nói về directional movement indicator (chỉ số hướng vận động) + hoặc -DM. Nó được định nghĩa đơn giản như là phần lớn nhất hướng ra ngòai phía trước phạm vi xác định. Nếu là ở mức cao thì nó là hướng vận động tích cực (+DM), còn thấp thì là hướng vận động tiêu cực (-DM). DM có giá trị 0 khi sự giao động trong phạm vi là nhỏ.
Nói 1 cách chính xác hơn thì chỉ số này được tính tóan trên cơ sở là chỉ số trung bình của +DMI và -DMI trong phạm vi đang xét. Thông thường nó sẽ có giá trị từ 0 cho đến 100 bởi vì nó chỉ là 1 chỉ số có giá trị thuần túy củ đường hướng lên hay xuống của thị trường, số dương hay âm biểu thị cho sự vận động lên hay xuống của thị trường.
Chỉ số DMI gồm 2 đường thẳng khác biệt, và thường được sử dụng đường dưới -DMI là màu đỏ, đường trên +DMI là màu xanh.
+ Average Directional Index (ADX)
Bước tiếp theo là ta tính tóan chỉ số hướng (direction index) bao gồm: +DMI và -DMI, nó tỉ lệ với nhau trong cùng 1 phạm vi. Nó biểu thị cho vùng trung bình giữa 2 vùng tăng và giảm của xu hướng thị trường. Nó được cấu tạo bởi 2 chỉ báo +DI và -DI. DX là được tính tóan bở sự chênh lệch của 2 chỉ báo này, lấy tổng 2 chỉ báo này chia cho 100 ta được con số phần trăm, con số này sẽ giao động từ 1cho tới 50. Làm trơn chỉ số này trong thị trường ngắn hạn, Wilder đã dùng kỹ thuật trung bình và đã tính tóan ra chỉ số ADX.
+ Cách sử dụng
a. Đầu tiên ta có tín hiệu mua khi +DMI cắt và nằm trên -DMI (lưu ý giá có qua điểm cực đại trước khi mua hay không), tín hiệu bán khi -DMI cắt và nằm trên +DMI.
b. Tính hiệu cắt của DMI cho tín hiệu bán rất chính xác khi thị trường đang trong 1 xu thế rõ ràng (trending market), và không chính xác khi thị trường ảm đạm, không có xu hướng (sideways market). Wilder đưa ra cách sử dụng khi thị trường đang trong 1 xu hướng. Khi ADX tăng và điểm tăng phải trên +DMI và -DMI. Nếu điểm tăng này ở giá trị cao thì đường giá sẽ chống lại với xu hướng cơ bản. Điều đáng nhớ là ADX là chỉ báo xu hướng nhưng nó không phản ánh hướng đi của xu hướng.
Trong ví dụ dưới đây, ngay tại đường thẳng đứng đầu tiên cho signal sell (vì có sự cắt của DMI), cái signal sell này được hỗ trợ bởi ADX vì tại điểm này ADX cao hơn các giá trị +/-DMI. Đây là sự đảo chiềucủa xu hướng nhằm củng cố thị trường nó tương tự như tình trạng không xu hướng (non-trending) hay ảm đạm (sideways market). Tiếp đó ở đường thẳng đứng thứ 2 là 1 tín hiệu mua (+DMI cắt và nằm trên -DMI), ngay tại đó giá trị của ADX vẫn cao hơn giao điểm của DMI và vẫn lớn hơn 20 (vẫn là 1 xu hướng)
DMI là 1 chỉ báo được duy trì phần lớn khi thị trường là tăng (bull market), còn ADX tăng là chỉ báo thị trường sẽ tiếp tục xu hướng hiện hành.
![]() |
| Hình 02 - Directional movement index (DMI) |
Đây là chỉ báo rất tốt về xu hướng tiếp theo của thị trường, một câu châm ngôn của những nhà đầu tư nhiều kinh nghiệm là "Xu hướng là bạn của chúng ta". Welles Wilder cho đây là chỉ báo đảo chiều (reversal) đáng tin cậy về mặt thời gian/giá. Nó bao gồm một lọat các điểm gọi là các điểm Stop And Reverse (SAR). Nếu phá vỡ những mức bảo vệ này thì thị trường sẽ được coi là đảo chiều.
Giống như giá bắt đầu 1 xu hướng thì những điểm SAR cũng bắt đầu chuyển động chậm vượt ra ngòai và hình thành 1 xu hướng đi lên.
Công thức tính toán:
SAR tomorrow = SAR today + AF (EP trade – SAR today)
Trong đó
- AF bắt đầu là 0.02 (giá trị mặt định) và sau khi tăng thêm 0.02 cho mỗi thanh giá và hướng tăng đột biến cho đến khi giá trị nó là 0.2.
- EP = điểm tăng giá quá xa. Mỗi khi giá tăng trong 1 xu hướng tăng giá nó sẽ thiết lập ghi nhớ các vị trí hiện hành. Ngược lại khi thị trường xuống giá thì nó sẽ ghi nhớ những điểm đặt đó.
Đây là chỉ báo giúp cho nhà đầu tư hiểu rõ 1 xu hướng. Nó là 1 chỉ báo dễ sử dụng. Một điều hiển nhiên là đường giá luôn đi xuyên qua SAR trong mọi hướng. Nhà đầu tư nên dừng lại và suy ngẫm khi SAR bị xuyên qua.
Dưới đây là ví dụ cụ thể, các vị trí được đánh dấu cho thấy đường giá đi xuyên qua các đường SAR (màu đỏ).
![]() |
Hình 03 - Parabolic SAR |
+ Cấu tạo
Kênh xu hướng bắt đầu từ đường xu hướng cơ bản và 1 đường song song tạo ra phần bên trong chứa đường giá. Trong trường hợp kênh xu hướng tăng, thì được vẽ bởi một đường xuyên qua các đỉnh và một đường song song sao cho phần bên trong ôm hết đường giá. Trong trường hợp kênh xu hướng giảm được vẽ bởi một đường xu hướng nối các đáy và một đường song song sao cho phần bên trong ôm hết đa số đường giá.
+ Cách sử dụng
- Kênh xu hướng có thể sử dụng như là mục tiêu của các chỉ báo, nó định hướng được phạm vi mà khả năng đường giá di chuyển được.
- Trong phần xu hướng thị trường, đôi lúc rất khó tìm đường hỗ trợ hay kháng cự, đặc biệt là thị trường đang tăng hoặc giảm. Khi thị trường đang tăng hay giảm đường giá chạy bên trong kênh xu hướng ta dễ dàng xác định được đỉnh hay đáy qua kênh xu hướng.
Nếu đường giá nằm ngòai kênh xu hướng và tiếp tục hướng đi đó ta có thể mở rộng kênh xu hướng hiện tại để dự đóan các điểm tiếp theo của giá hướng tới. Khi đường xu hướng bị gãy ta có thể sử dụng chúng như là 1 đường hỗ trợ hay kháng cự.
![]() |
| Hình 04 - Trend Channels – Kênh xu hướng |
+ Biến tấu
Kênh xu hướng sử dụng để giới hạn sự nhấp nhô của giá, nhưng nó không đảm bảo độ chính xác đáng tin cậy. ví dụ dưới đấy cho thấy thị trường có thể tạo ra nhiều kên xu hướng nhỏ (kênh xu hướng phụ) trong một kênh xu hướng chính lớn và nó rất thường xảy ra nhưng không phải lúc nào cũng vậy. Nó không chỉ là đường giá giảm trong kênh xu hướng giảm mà đôi lúc giá tăng trong kênh xu hướng giảm.
![]() |
| Hình 05 - Trend Channels – biến tấu kênh xu hướng |
Đôi lúc các nhà đầu tư không quan tâm giá trị vượt qua kênh xu hướng này, mà đa số là dè dặt khi đường giá vượt ra khỏi kênh xu hướng. Khi đường giá từ dưới vượt qua kênh xu hướng và nó bẻ gãy kênh xu hướng tạo ra điểm thoát (breakout) và lúc đó kênh xu hướng sẽ trở thành đường hỗ trợ hay kháng cự.
Chúc mọi người thành công.
Liên hệ: chungkhoanmoingay@gmail.com
Hãy để lại lời góp ý của mình bằng cách Click vào nhận xét, sau đó để lại lời góp ý, (có thể chọn 1 hộp thư để đăng ký hoặc chọn mục Nặc danh các bạn nhé).





Đăng nhận xét